Lấy ý kiến nhân dân về Đề án Quy hoạch Thủ đô Hà Nội

Theo Quy hoạch chung, Thủ đô sẽ được xây dựng và phát triển dựa trên việc hình thành đô thị hạt nhân và 5 đô thị vệ tinh bao phủ đô thị hạt nhân. Đô thị hạt nhân được hình thành từ đô thị lõi hiện hữu phát triển về phía Tây cho đến đường vành đai 4, và về phía Bắc sông Hồng gồm Đông Anh, Gia Lâm và khu vực Mê Linh. Dân số đô thị trung tâm từ 4 – 4,5 triệu người. Đô thị hạt nhân này được xây dựng dựa trên khoảng 750 dự án đang được rà soát và cập nhật dọc đường vành đai 4 Đan Phượng – Hoài Đức – Hà Đông – Thường Tín.

Dự kiến, 5 đô thị vệ tinh gồm có Hòa Lạc, Sơn Tây, Xuân Mai, Phú Xuyên – Phú Minh và Sóc Sơn có dân số xấp xỉ từ 21 vạn đến 75 vạn người/đô thị. Mỗi đô thị vệ tinh sẽ có một hoặc nhiều nhân tố chính để tạo công ăn việc làm và có chức năng đặc thù riêng để hỗ trợ, chia sẻ với đô thị trung tâm về nhà ở, đào tạo chất lượng cao, công nghiệp, dịch vụ… trong đó Hòa Lạc là đô thị khoa học, nơi tập trung trí tuệ và công nghệ tiên tiến nhất của Việt Nam, là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của cả nước và vùng. S

ơn Tây là hạt nhân thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội cửa ngõ Tây Bắc Thủ đô Hà Nội, là đô thị văn hóa lịch sử du lịch sinh thái, phát triển tiêu thụ công nghiệp, nông nghiệp sinh thái.

Xuân Mai là đô thị đại học và dịch vụ cửa ngõ phía Tây Nam Hà Nội.

Phú Xuyên – Phú Minh là đô thị vệ tinh phía Nam của Thủ đô, phát triển công nghiệp, kho tàng, các dịch vụ trung chuyển, đầu mối phân phối, tiếp vận hàng hóa và phân phối nông sản vùng.

Sóc Sơn là đô thị cửa ngõ phía Bắc Hà Nội, là đô thị công nghiệp, dịch vụ cảng hàng không Nội Bài gắn với bảo tồn khu vực núi Sóc.

Theo quy hoạch chung Thủ đô đến năm 2030, dân số của Hà Nội vào khoảng 10 triệu dân, tầm nhìn đến năm 2050 vào khoảng 13 – 14 triệu dân. Đến năm 2030, dân số Thủ đô có thể đạt 9,4 triệu dân, trong đó dân số thành thị khoảng 6,4 triệu người, còn lại khoảng 3 triệu dân nông thôn.

Ngoài ra, Thủ đô sẽ hình thành một vành đai xanh dọc sông Đáy, sông Tích và sông Cà Lồ. Vành đai này chiếm đến 68% tổng diện tích đất tự nhiên. Trong vành đai xanh hình thành cảnh quan theo trục Bắc – Nam gồm 3 đô thị sinh thái là Phúc Thọ, Quốc Oai và Chúc Sơn tại giao cắt của 3 tuyến đường chính là QL6, đường Láng – Hòa Lạc và QL32.

Quy hoạch chung Thủ đô đã đưa ra định hướng phát triển nhà ở giai đoạn đến năm 2030 nhà ở đô thị phấn đấu tăng từ 7,5m2/người (năm 2007), lên 18m2 sàn/người (chỉ tiêu chung của quốc gia là 15 – 20m2/người) và nhà ở nông thôn đạt 15m2 sàn/người. Dãn dân từ đô thị lõi lịch sử tới các khu đô thị mới hoặc đô thị vệ tinh với các tiêu chuẩn nhà ở đạt tiêu chuẩn quốc gia và đa dạng về loại hình đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng sử dụng trong xã hội.

Đối với khu phố cổ, không phát triển nhà ở mới, tập trung cải thiện chất lượng ở, bảo tồn giá trị kiến trúc nhà ở, không gian ở truyền thống. Đối với các khu phố cũ, hạn chế phát triển nhà ở mới, tập trung vào cải tạo quỹ nhà hiện có, bảo tồn kiến trúc nhà ở có giá trị (các biệt thự cũ).

Đối với các khu tập thể cũ, quy hoạch cải tạo không làm tăng thêm quy mô dân số, bổ sung, hoàn thiện các chức năng công cộng và hạ tầng kỹ thuật

2.000 tỷ đồng xây Khu đô thị mới tại Quảng Ninh

>> 100 triệu USD xây tòa nhà Kinh Bac Hanoi Tower

Theo đó, KCB sẽ được giao gần 1.000 ha tại Thị xã Uông Bí để xây dựng Khu công nghiệp – đô thị và dịch vụ Phương Nam, trong đó đất công nghiệp 700 ha, đất đô thị, dịch vụ và nhà ở công nhân là 200 ha.

Dự án được xây dựng tại ngã ba Quốc lộ 18a và Quốc lộ 10a được xem là điểm nhấn của vùng tam giác kinh tế trọng điểm Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, cách cảng Cái Lân 40 km, cách cảng Hải Phòng và sân bay Cát Bi – Hải Phòng 40 km, rất thuận lợi để phát triển công nghiệp, sản xuất và xuất khẩu hàng hóa.

Dự án có tổng vốn đầu tư khoảng 2.000 tỷ đồng.

Dự kiến, dự án sẽ được khởi công vào ngày 27/4/2010 tới và hoàn thành trong 4 năm.

Theo lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh, dự án này có ý nghĩa rất lớn đối với Thị xã Uống Bí với mục tiêu trở thành Thành phố Uông Bí vào năm 2011, dự kiên sẽ thu hút 1-2 tỷ USD đầu tư nước ngoài và tạo ra trên 50.000 công ăn việc làm cho nhân dân địa phương.

Lệ Hà

Hội thảo Học viện Quản lý Singapore – SIM

Tại Đà Nẵng

Thời gian:17h30, Thứ 5, ngày 04/03/2010

Địa điểm: Văn phòng VISCO: 433 Phan Chu Trinh, Quận Hải Châu

Tại Hà Nội

Thời gian: 17h00, thứ 7, ngày 06/03/2010

Địa điểm: VP VISCO, 230 Kim Mã, Hà Nội

SIM được thành lập năm 1964 bởi Tổng cục phát triển kinh tế Singapore với mục đích nâng cao hiệu quả bộ máy quản lý kinh tế và tổ chức nhân sự Singapore. Với 46 năm phát triển, ngày nay SIM đã có trở thành một tổ chức giáo dục lớn và toàn diện nhất tại Singapore

Năm 1993, SIM là học viện đầu tiên của châu Á đạt chứng chỉ ISO 9002.

Năm 2003, SIM được trao tặng chứng nhận SQC về chất lượng và chương trình đào tạo

Năm 2005, Bộ Giáo dục Singapore phê chuẩn việc thành lập SIM University (Viện đại học SIM) – trường đại học công lập thứ 4 của Singapore.

Năm 2009, SIM vừa công bố dự án sẽ mở rộng gấp đôi khu học xá trong vòng 5 năm tới với mức đầu tư 300 triệu đô la Singapore.

Một trong những điểm hấp dẫn của SIM là sinh viên có thể lựa chọn chương trình học để nhân được bằng cấp của các trường đại học danh tiếng của Anh, Úc, Mỹ (Đại học London và Đại học Birmingham (Anh quốc), Đại học Buffalo – bang New York (Mỹ), Đại học RMIT và Đại học Wollongong, (Úc).Mục tiêu đào tạo của SIM là cung cấp cho sinh viên tư duy sáng tạo, kỹ năng quản lý của một nhà lãnh đạo trong thời buổi hội nhập kinh tế quốc tế.

Các khóa học đào tạo của SIM:

1. Cấp bằng của Đại học London (Anh quốc)

Cử nhân Kế toán & Tài chính

Cử nhân Ngân hàng & Tài chính

Cử nhân Kinh doanh

Cử nhân Kinh tế

Cử nhân Kinh tế & Tài chính

Cử nhân Kinh tế & Quản lý

Cử nhân Toán & Kinh tế

Cử nhân Quản lý

Cử nhân Hệ thống thông tin & Quản lý

Cử nhân Tin học & Hệ thống thông tin

2. Cấp bằng của Đại học Birmingham (Anh quốc)

Cử nhân Quản trị kinh doanh

Cử nhân Thương mại quốc tế

3.Cấp bằng của Đại học Buffalo, đại học bang New York (Mỹ)

Cử nhân Quản trị Kinh doanh

Cử nhân Truyền thông

Cử nhân Tâm lý

Cử nhân kép về Quản trị kinh doanh và Tâm lý

Cử nhân kép về Truyền thông và Tâm lý

Cử nhân Xã hội học

4. Đại học RMIT (Úc)

Cử nhân Kinh doanh (Kinh tế & Tài chính)

Cử nhân Kinh doanh (Quản lý)

Cử nhân Kinh doanh (Marketing)

5. Cấp bằng của Đại học Wollongong (Úc)

Cử nhân Khoa học máy tính (An ninh hệ thống)

Cử nhân Khoa học máy tính (Thiết kế game và đa truyền thông)

Khai giảng: tháng 1, 4, 7, 10 đối với các chương trình, khai giảng tháng 8 đối với các chương trình cấp bằng của Đại học London, Anh quốc

Hạn nộp hồ sơ: 3 tháng trước kỳ khai giảng

Yêu cầu tối thiểu: học sinh tốt nghiệp lớp 12, điểm trung bình trên 6,5, có chứng chỉ tiếng Anh tối thiểu IELTS 4.5

Liên hệ với VISCO để biết thêm chi tiết

Tại Hà Nội: 230 Kim Mã, Ba Đình

ĐT: 04.37261938

Email: viscohanoi@visco.edu.vn

Tại Đà Nẵng: 433 Phan Chu Trinh, Q. Hải Châu

ĐT: 0511.3552597/96

Email: viscodn@visco.edu.vn

Tại T.p Hồ Chí Minh: 239 Cách Mạng Tháng 8, Nhà A02 Chung cư Văn hóa, Phường 4, Quận 3

ĐT: 08.38328416/38390718

Email: viscohcm@visco.edu.vn

Tại Hải Phòng: 309 Hai Bà Trưng, Cát dài, Lê Chân

ĐT: 031 3950748

Email: viscohp@visco.edu.vn

Website: www.sim.edu.sg; www.visco.edu.vn

Tư vấn online: YM : duhocvisco

Quy định cụ thể về 11 diện được tạm hoãn nhập ngũ

Theo quy định tại Điều 29 Luật Nghĩa vụ Quân sự và Điều 3 Nghị định số 38/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/03/2007 hướng dẫn thi hành thì những công dân sau được tạm hoãn gọi nhập ngũ trong thời bình:

1. Chưa đủ sức khỏe phục vụ tại ngũ theo kết luận của Hội đồng khám sức khỏe.

2. Là lao động duy nhất phải trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng người khác trong gia đình không còn sức lao động hoặc chưa đến tuổi lao động.

3. Là lao động duy nhất trong gia đình vừa bị thiệt hại nặng về người và tài sản do tai nạn, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm gây ra, được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận.

4. Có anh, chị hoặc em ruột là hạ sĩ quan binh sĩ đang phục vụ tại ngũ.

5. Người đi xây dựng vùng kinh tế mới trong ba năm đầu.

6. Người thuộc diện di dân, giãn dân trong ba năm đầu đến vùng sâu, vùng xa, biên giới, vùng đặc biệt khó khăn có phụ cấp khu vực hệ số 0,5 trở lên, ở hải đảo có phụ cấp khu vực hệ số 0,3 trở lên theo dự án phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trở lên quyết định.

7. Cán bộ, viên chức, công chức quy định tại Điều 1 Pháp lệnh Cán bộ, công chức, thanh niên xung phong, thanh niên tình nguyện, trí thức trẻ tình nguyện làm việc trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội đang cư trú tại địa phương hoặc người địa phương khác được điều động đến làm việc ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, vùng đặc biệt khó khăn có phụ cấp khu vực hệ số 0,5 trở lên, ở hải đảo có phụ cấp khu vực hệ số 0,3 trở lên.

8. Đang nghiên cứu công trình khoa học cấp nhà nước được Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ hoặc người có chức vụ tương đương chứng nhận.

9. Học sinh, sinh viên đang học tập tại các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân theo quy định tại khoản 1 Điều 48 của Luật Giáo dục 2005 bao gồm:

a) Trường trung học phổ thông, trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường chuyên, trường năng khiếu, dự bị đại học;

b) Trường trung cấp chuyên nghiệp, trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề;

c) Trường cao đẳng, đại học;

d) Học viện, viện nghiên cứu có nhiệm vụ đào tạo trình độ thạc sỹ, tiến sỹ.

10. Học sinh, sinh viên đang học tại các nhà trường của tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được phép đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam hoặc học sinh, sinh viên được đi du học tại các trường ở nước ngoài có thời gian đào tạo từ mười hai tháng trở lên.

11. Công dân đang học tập tại các trường quy định tại điểm b, điểm c khoản 9 và khoản 10 Điều này chỉ được tạm hoãn gọi nhập ngũ trong một khóa đào tạo tập trung, nếu tiếp tục học tập ở các khóa đào tạo khác thì không được tạm hoãn gọi nhập ngũ. Hàng năm, những công dân thuộc diện tạm hoãn gọi nhập ngũ quy định tại Điều này phải được kiểm tra, nếu không còn lý do tạm hoãn thì được gọi nhập ngũ.

Như vậy với quy định trên thì trường hợp của bạn được tạm hoãn gọi nhập ngũ. Nếu bạn đã xuất trình giấy xác nhận của trường học nơi bạn đang học mà Ban chỉ huy quân sự huyện vẫn ra lệnh gọi nhập ngũ đối với bạn là không đúng quy định của pháp luật.

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 38/2007/NĐ-CP nói trên bạn cần gửi đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân tỉnh. Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ có trách nhiệm kiểm tra, xem xét và giải quyết đơn khiếu nại của bạn.

Luật sư Vũ Tiến Vinh

Công ty Luật Bảo An

41 Trần Hữu Tước, Đống Đa, Hà Nội

Chỉ định Agribank phục vụ Chương trình Phát triển giáo dục trung học

Chương trình được ký kết ngày 22-12-2009 giữa Việt Nam và ADB, nhằm hỗ trợ cải cách hệ thống giáo dục trung học của Việt Nam, đáp ứng các nhu cầu của thị trường lao động trong bối cảnh Việt Nam đang trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình.

Chương trình này sẽ giải quyết những vấn đề liên quan của giáo dục trung học thông qua việc cập nhật kế hoạch Tổng thể Phát triển giáo dục Trung học của Việt Nam, xây dựng những tiêu chuẩn quốc gia đối với các trường trung học, nâng cao chất lượng chương trình giảng dạy, cải thiện chất lượng giáo viên trung học, thiết lập một ban kiểm định quốc gia và hệ thống đánh giá học tập mới, đồng thời phát triển giáo dục thường xuyên.

Tổng chi phí của chương trình Phát triển giáo dục trung học có giá trị tương đương 71 triệu USD, trong đó các khoản cho vay của ADB trị giá 60 triệu USD và 11 triệu USD từ đóng góp của Chính phủ. Các khoản cho vay của ADB bao gồm một khoản vay chính sách 20 triệu USD có kỳ hạn 24 năm và một khoản vay dự án 40 triệu USD có kỳ hạn 32 năm.

XUÂN BÁCH

Opel sản xuất ôtô điện sử dụng trong thành phố

Phát ngôn viên Opel cho biết, thị trường ôtô điện loại nhỏ sử dụng trong thành phố có cơ hội tăng trưởng mạnh và các chính phủ sẽ hỗ trợ tài chính cho loại xe thân thiện với môi trường này.

Mẫu ôtô mới của Opel gồm phiên bản điện và chạy xăng truyền thống sẽ nhỏ hơn Corsa và dự kiến được trình làng trong vòng 3 năm tới.

Opel cũng thông báo sẽ đầu tư 11 tỷ USD tới năm 2014 cho các mẫu ôtô mới sử dụng công nghệ thân thiện với môi trường.

Dòng xe điện đầu tiên của hãng, Ampera, dự kiến sẽ xuất xưởng vào năm 2011.

Mới đây, Liên minh châu Âu (EU) đã hối thúc Ủy ban châu Âu (EC) vạch ra một chiến lược chung nhằm phát triển ôtô điện.

Tây Ban Nha – nước hiện giữ chức Chủ tịch luân phiên EU cũng muốn đưa ôtô điện vào chiến lược năm 2020 của EU, một dự án phát triển kinh tế toàn diện nhằm đảm bảo phát triển kinh tế và tăng trưởng ổn định cho châu Âu./.

Việt Khoa (Vietnam+)

Xây dựng tiềm lực để phát triển kinh tế

Tổng sản phẩm trong tỉnh tăng lên liên tục với tốc độ tăng bình quân mỗi năm là 12,0%; GDP sau 10 năm tăng khoảng 5 lần và đạt bình quân đầu người 6.998USD kể cả dầu khí và 2.674USD không kể dầu khí (2007). Tỉnh đánh giá, đạt được kết quả nêu trên có phần đóng góp tích cực cả các hoạt động khoa học và công nghệ (KHCN) của các ngành trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là đội ngũ cán bộ KHCN.

Thế mạnh dầu khí

Số đề tài nghiên cứu, ứng dụng trong các lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ khá phong phú, đa số được thực hiện được ở các doanh nghiệp, chỉ có hơn 30 đề tài được thực hiện sử dụng kinh phí sự nghiệp khoa học.

Trong khai thác dầu khí, Xí nghiệp liên doanh VietsoPetro là đơn vị chính thuộc thuộc ngành dầu khí đóng trên địa bàn tỉnh đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong công tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí trong suốt 15 năm qua. Đó là việc tổ chức khai thác có hiệu quả thân dầu trong đá móng nứt nẻ mỏ Bạch Hổ và mỏ Đông Nam Rồng – loại mỏ dầu đặc biệt hiếm có trên thế giới.

Hàng năm, xí nghiệp liên doanh VietsoPetro tổ chức thực hiện trung bình khoảng từ 30-35 đề tài nghiên cứu KHCN và áp dụng từ 10-15 hạng mục công nghệ mới. Tổng đầu tư cho KHCN của xí nghiệp có thể đạt trên dưới 2% tổng đầu tư sản xuất kinh doanh. Với mức độ đầu tư như vậy, tổng sản lượng khai thác được trong 15 năm qua đạt tới 160 triệu tấn và hàng chục tỉ mét khối khí, đóng góp cho ngân sách nhà nước hàng chục tỉ USD.

Đối với hoạt động nghiên cứu và ứng dụng công nghệ bảo vệ tài nguyên, môi trường, các đề tài đã có đóng góp tích cực trong việc xây dựng hầm chưa khí sinh vật (bioga) sử dụng phân gia súc, gia cầm phục vụ đời sống và bảo vệ môi trường; Nghiên cứu sản xuất chế phẩm vi sinh xử lý rác.

Tỉnh chú trọng công tác nghiên cứu và ứng dụng trong ngành dầu khí.

Việc ứng dụng năng lượng mặt trời và gió phát điện cho vùng sâu vùng xa và Côn Đảo từ những năm 1993-1995 phục vụ văn hóa, đời sống và an ninh quốc phòng đã mang lại hiệu quả tích cực đặc biệt đối với Côn Đảo.

Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu xử lý tái sử dụng cặn dầu đã trở thành dự án giúp Cty TNHH Sông Xanh mạnh dạn đầu tư hàng tỉ đồng xây dựng hệ thống xử lý chất thải (2001) góp phần quan trọng trong bảo vệ môi trường và đặc biệt là giải quyết khó khăn cho VietsoPetro trong thời gian qua. Năm 2001 với sự cố tràn dầu lớn nhất từ trước tới nay xảy ra ở vịnh Gàng Rái, TP. Vũng Tàu, Sở KHCN&MT tỉnh đã phối hợp với các ngành giải quyết tốt việc ứng cứu, bổi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp công nghệ thích hợp để làm sạch bãi biển.

Ngoài ra, nghiên cứu, ứng dụng KHCN trong các lĩnh vực khác như công nghệ thông tin, xây dựng và phát triển hạ tầng kỹ thuật, nghiên cứu KHCN trong lĩnh vực y tế… cũng đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật.

Chú trọng đầu tư phát triển nhân lực

Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xác định, nhằm sớm đưa tỉnh trở thành tỉnh công nghiệp mạnh về kinh tế biển vào thời kỳ 2010-2015, tỉnh sẽ kết hợp thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ. Trong đó, tỉnh sẽ sử dụng hợp lý và hiệu quả hơn đội ngũ trí thức để từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài nhà nước và khuyến khích đội ngũ trí thức nghiên cứu, ứng dụng chuyển giao KHCN.

Tỉnh chú trọng tạo một hàng lang pháp lý cho sự hoạt động giữa các thành viên trong chuỗi liên kết: đội ngũ trí thức-doanh nghiệp-nhà trường-nhà nước. Tỉnh cũng sẽ sớm xây dựng quỹ KHCN của tỉnh và có cơ chế chính sách phù hợp để mở rộng hợp tác quốc tế về KHCN.

Bà Rịa-Vũng Tàu tăng cường đầu tư cho phát triển thu hút nhân lực và thu hút chất xám.

Bên cạnh việc tăng cường củng cố và phát triển các đơn vị nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng (xây dựng một trung tâm nghiên cứu khoa học và ứng dụng đủ mạnh; thành lập Viện Nghiên cứu Kinh tế kỹ thuật trực thuộc UBND tỉnh), tỉnh sẽ xây dựng kế hoạch tổng thể phát triển KHCN giai đoạn 2020-1025.

Đối với hoạt động đào tạo nguồn nhân lực, tỉnh sẽ tổ chức liên kết với nhiều trường đại học trong nước để đào tạo khoảng 2.500 người có trình độ đại học trở lên mỗi năm. Tỉnh cho biết sẽ tăng cường đầu tư hơn nữa cho các trường đại học, cao đẳng hiện có, nhất là đầu tư trang thiết bị cho các ngành công nghệ cao.

Đồng thời mở rộng đào tạo các ngành nghề mà tỉnh đang cần, cũng như xây dựng thêm các trường đại học công lập, đại học quốc tế, hoặc liên kết với các trường đại học nước ngoài để đào tạo theo chuẩn quốc tế. Bà Rịa-Vũng Tàu cũng chú trọng việc thu hút chất xám ngoài tỉnh thông qua các đề tài khoa học lớn hoặc các dự án kinh tế-xã hội then chốt của tỉnh và khuyến khích các cơ quan, đơn vị, Cty, trường học thu hút chất xám từ các nơi khác về cũng như giảm thiểu việc chảy máu chất xám của đơn vị mình.

Trong 15 năm qua, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã tổ chức thực hiện được 325 đề tài, dự án cấp tỉnh và khoảng 800 đề tài cấp ngành và doanh nghiệp. Các lĩnh vực nghiên cứu bao gồm: Điều tra cơ bản điều kiện tự nhiên và bảo vệ môi trường, nông lâm ngư nghiệp; khoa học xã hội và nhân văn, y tế, giáo dục; kỹ thuật công nghệ. Khoảng hơn 80% số lượng đề tài, dự án sau nghiệm thu được đưa vào áp dụng trong thực tế sản xuất và đời sống ở các cấp độ khác nhau.

Nhiều đề tài, dự án đã phát huy hiệu quả lớn phục vụ phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh cũng như cung cấp các luận cứ khoa học phục vụ công tác nghiên cứu lập quy hoạch toàn tỉnh, xây dựng các công trình, dự án, xây dựng các văn bản, nghị quyết của Đảng, quyết định của chính quyền và là nguồn tư liệu quý báu phục vụ nghiên cứu khoa học và đào tạo cán bộ.

Chi cục Sở hữu trí tuệ Bà Rịa-Vũng Tàu đã tư vấn cho 800 lượt đơn vị, hướng dẫn thủ tục bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho gần 600 lượt cơ sở. Lập hồ sơ đăng ký bảo hộ trí tuệ cho 300 hồ sơ của 150 doanh nghiệp (250 giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, 10 bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp, 6 bằng độc quyền sáng chế, 4 bằng độc quyền giải pháp hữu ích, 28 văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa được gia hạn và sửa đổi. Tham gia giải quyết nhiều vụ tranh chấp, xử lý vi phạm về sở hữu trí tuệ. Tổ chức 5 kỳ hội thi sáng tạo kỹ thuật với 108 giải pháp tham gia có 72 giải pháp của tỉnh và một số đã đạt giải cao.

Đảng ủy Khối doanh nghiệp T.Ư đẩy mạnh giúp đỡ huyện nghèo

Từ chương trình của Đảng ủy Khối, các doanh nghiệp trong Khối đã đi đầu và là lực lượng chủ lực thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ về hỗ trợ 62 huyện giảm nghèo nhanh và bền vững. Đến nay, đã có 25 doanh nghiệp trong Khối cam kết hỗ trợ 50 huyện và nhiều vùng nghèo, hộ nghèo, với các hoạt động cụ thể như: Hỗ trợ xóa hơn 39 nghìn nhà tạm, xây dựng 51 trường học và nhà ở nội trú, cấp học bổng lâu dài cho học sinh; xây dựng 32 trạm y tế; xóa cầu khỉ; nâng cao năng lực mạng lưới thông tin. Các doanh nghiệp phát huy lợi thế đầu tư nhà máy, trồng cao-su, cà-phê…, tổng trị giá các doanh nghiệp trong khối cam kết hỗ trợ cho các huyện nghèo hơn 1.900 tỷ đồng, năm 2009 đã giải ngân hơn 400 tỷ đồng. Ngân hàng Chính sách xã hội mở rộng mạng lưới, đối tượng cho vay, giúp nhiều đối tượng thoát nghèo, học sinh, sinh viên nghèo tiếp tục học tập.

Các tập đoàn, tổng công ty, ngân hàng trong khối xây dựng các quỹ với tổng giá trị nhiều nghìn tỷ đồng và trực tiếp làm các công trình đền ơn đáp nghĩa, từ thiện, nhân đạo; ủng hộ đồng bào vùng bị bão lũ; phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; Quỹ vì người nghèo…

UBND tỉnh An Giang vừa có buổi gặp mặt đầu xuân với 150 doanh nhân tiêu biểu trong tỉnh. Tại buổi gặp gỡ, lãnh đạo tỉnh cam kết luôn đồng hành cùng các doanh nghiệp, tạo mọi điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp ngày càng phát triển, góp phần thực hiện thắng lợi những mục tiêu kinh tế – xã hội chung của tỉnh. Năm 2010, tỉnh An Giang tập trung tháo gỡ vướng mắc về thủ tục hành chính, quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực theo nhu cầu của các doanh nghiệp, đào tạo theo địa chỉ để cung cấp nguồn lao động chất lượng cao cho các dự án, nhà máy. Tỉnh cũng đẩy mạnh xúc tiến đầu tư, thương mại, mời gọi các doanh nghiệp đầu tư vào An Giang. Lãnh đạo tỉnh An Giang đề ra nhiều biện pháp khuyến khích với mục tiêu năm 2010, các doanh nghiệp hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất, kinh doanh, mạnh dạn đầu tư, tiếp tục ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, làm cho sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao, đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng.

Nhân dịp này, 48 doanh nghiệp và 24 doanh nhân tiêu biểu, có đóng góp lớn cho sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh được biểu dương, khen thưởng.

PV và TTXVN

Hạn chế tối đa lạm phát

Theo chỉ đạo của Thủ tướng, các biện pháp cần tập trung vào những yếu tố tác động từ việc lợi dụng sự điều chỉnh giá của nhà nước để đẩy giá các loại hàng hóa tăng cao, gây tâm lý bất lợi trong xã hội.

Theo đó, Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Xây dựng ngay trong tháng 3 phải chủ động rà soát, cân đối cung-cầu các loại hàng hóa thiết yếu như gạo, xăng dầu, phân bón, xi măng, sắt thép…; chủ động can thiệp thị trường, hoặc trình cấp có thẩm quyền các giải pháp ứng phó trong trường hợp cần thiết để bảo đảm không xảy ra tình trạng khan hiếm hàng hóa gây tăng giá đột biến. Chủ tịch UBND các tỉnh, TP trực thuộc trung ương phải tiếp tục triển khai các biện pháp bảo đảm nguồn hàng hóa tiêu dùng thiết yếu; tăng cường chỉ đạo các lực lượng chức năng kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định về quản lý giá cả.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ động triển khai các biện pháp theo chỉ đạo của Thủ tướng, điều hành tốt chính sách tiền tệ, bảo đảm kiềm chế lạm phát cao.

TX

Tự do mậu dịch với Trung Quốc: Làm sao để cùng thắng?

Trong khi trao đổi hàng hóa tính trên số lượng xuất nhập khẩu giữa Trung Quốc và các nước ASEAN những năm gần đây tăng vọt, thì ở bình diện khu vực, với việc hình thành khu mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA, ASEAN China Free Trade Agreement), một “định chế” thương mại giữa hai bên đang dần trở thành hiện thực.

Định chế này mang hai ý nghĩa. Trên hết, nó tự ghi dấu ấn vào lịch sử thương mại toàn cầu bởi những con số định lượng: Đây là vùng tự do thương mại lớn nhất toàn cầu dựa trên dân số các nước thành viên (1,9 tỉ người), vượt qua NAFTA (North American Free Trade Agreement) và đứng thứ ba về sản lượng trao đổi chỉ sau thị trường chung châu Âu và Bắc Mỹ.

Các nhà quan sát còn bổ sung rằng, ACFTA cần được chú ý đặc biệt, vì trong nó đang lưu chuyển một xung lực mạnh mẽ của kinh tế thế giới với Trung Quốc, cùng các con rồng, con hổ mới nổi trong vùng Á châu.

Xét về mặt địa chính trị, ý nghĩa thứ hai vượt qua những con số. Một nhà quan sát nhận định, ACFTA hơn là một kế hoạch tự do thương mại. Trên căn bản, đó là một dự án “chính trị” của người “khổng lồ” Trung Quốc nhằm thiết chế hóa một môi trường khu vực ổn định, đóng góp vào tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước mình.

“Trỗi dậy hòa bình” (peaceful development) hay “một thế giới hài hòa” (harmonic world), những thuật ngữ đang trở thành đầu lưỡi trong các bài diễn văn của lãnh đạo đất nước Tử Cấm Thành, được viện dẫn giải thích những bước đi nhũn nhặn trong chính sách ngoại giao khu vực. Cuộc tranh luận càng trở nên thú vị hơn với quan điểm cho rằng: quyền lực “sản xuất” toàn cầu đang chuyển đổi. Với Trung Quốc, một ngôi sao đang lên, đồng nghĩa rằng đây sẽ là đầu máy tăng trưởng và thịnh vượng của nền kinh tế toàn cầu. Ít nhất là trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Gắn kết vào nền kinh tế dân số 1,3 tỉ dân này là xu thế tất yếu, để tận dụng nguồn tài nguyên, giá thành nhân công, thị trường nội địa khổng lồ và xung lực tăng trưởng đang dồi dào như dòng Trường Giang cuồn cuộn. Trung tâm châu Á hay đầu máy khu vực? Có lập luận nào gây nghi ngờ và tranh cãi hơn?

Trong khung cảnh các nước ASEAN, từ giới hoạch định chính sách quốc gia đến các học giả, nhà báo, tri thức các ý kiến xoay tròn theo câu hỏi: Làm ăn xả láng với Trung Quốc, lợi gì, hại gì? Tựu trung, có thể nêu ra ba nhận định đáng chú ý.

Thứ nhất, hầu như không nước ASEAN nào không ý thức việc gắn kết với kinh tế Hoa lục là một cơ hội phát triển. Trường phái này áp đảo, vì cái lý giải đơn giản của ông bà ta xưa “cơm áo gạo tiền” hay “đồng tiền đi liền khúc ruột”. Hợp tác làm ăn, đôi bên cùng lợi. Huống chi anh bạn mình còn là đối tác đầy tiềm năng, cứ tăng không giảm.

Tính thử trong vòng 10 năm, thương mại ASEAN – Trung Quốc tăng gấp 6,8 lần (từ 25 tỉ USD năm 1997 lên 171 tỉ USD năm 2007). Trong khi đó, cùng một khoảng thời gian, ngoại thương với các đối tác chiến lược khác chỉ giới hạn ở mức độ tăng trưởng nhất định (thí dụ như Hoa Kỳ tăng 1,4%).

Đồ chơi Trung Quốc tại chợ Bình Tây, TP. Hồ Chí Minh. Ảnh Trần Tiến Dũng.

Hòa nhịp, giới chiến lược bổ sung thêm nhu cầu chơi với Trung Quốc để tăng “đảm bảo về an ninh”, vì lợi ích về thương mại, đầu tư sẽ là ràng buộc vô hình cho những quyết định phiêu lưu về quân sự. Chẳng ai muốn tự nhiên muốn đá đổ nồi cơm của mình.

Ý thức lợi ích đi liền với nhu cầu liên kết về kinh tế đưa mối quan hệ lên thành những định chế mang tính ràng buộc nhau về pháp lý. Đây là xu thế khu vực hóa thời thượng trong các bàn tròn hợp tác phát triển vùng.

Nhưng làm ăn với Trung Quốc không phải chỉ nhìn vào cái được. Tiềm năng hồ hởi, cơ hội tràn trề là mặt dương. Mặt âm là sự tương đồng của nền kinh tế, dẫn đến cạnh tranh về sản phẩm. Định hình về chiến lược phát triển của các nước ASEAN bất lợi vì thua ông khổng lồ phương Bắc về lợi thế “ồ ạt” (economies of scale). Cùng cung cấp một sản phẩm, nhưng do mức độ sản xuất ít hơn, nên giá thành sản phẩm cao hơn, mức độ cạnh tranh kém hơn.

Chưa kể, khác với Nhật Bản, đất nước đã phát triển với trình độ sản xuất cao và gắn kết hợp tác với ASEAN thông qua các chuỗi giá trị sản xuất mang tính bổ sung từ thấp đến cao, kinh tế Trung Quốc bao hàm hỗn hợp nhiều yếu tố khác biệt nhau cùng một lúc. Đó là nguyên nhân tại sao trong vòng đàm phán tự do thương mại thế giới Doha vừa qua, các nhà quan sát bối rối không biết xếp Trung Quốc vào đại diện nhóm nước nào.

Là nước phát triển tính về sản lượng sản xuất, mức độ phát triển ở các thành thị. Nhưng cũng là một nước chậm tiến tính về tỷ trọng của nền kinh tế trên nông nghiệp, và sự tụt hậu ở các vùng ngoại vi. Ấy thế mà chuỗi sản xuất của Trung Quốc cần hợp tác với các nước ASEAN ở nhiều điểm vừa cao, vừa thấp, không bao giờ thuần túy là bổ sung mà còn là cạnh tranh, đối đầu, thậm chí đấu nhau kịch liệt. Kết quả cho đến nay, có lẽ đối với các nước ASEAN, phần tối nhiều hơn sáng, với thâm hụt mậu dịch ngày càng tăng trong mối quan hệ thương mại với anh bạn phương Bắc láng giềng. Lợi ích bị đe dọa, thì cần đối sách phản ứng. Đó chính là nhận xét thứ ba.

Ở điểm này các nước ASEAN chia rẽ, vì mức độ phụ thuộc với Trung Quốc, định vị chiến lược vùng, cũng như trình độ phát triển tự thân của mỗi thành viên.

Đối với Việt Nam chúng ta, thương mại với Trung Quốc trước hết mang lại nhiều lợi điểm, vì sự tương đồng về tập quán, thói quen tiêu dùng, trình độ sản xuất, giá thành, cũng như mối quan hệ giao hảo về kinh tế giữa hai nước trong thời gian qua.

Mặt khác, nước ta cũng là một thí dụ điển hình cho hầu hết các quan ngại về mặt âm trong thương mại với Trung Quốc. Hai dẫn chứng thường được báo giới đưa ra là cấu trúc thương mại Việt-Trung với cán cân thâm hụt mậu dịch càng nghiêng về nước ta trong những năm qua, cùng với tính chất “Bắc-Nam” trong quan hệ ngoại thương, khi giao dịch hàng hóa thể hiện qua mô thức trao đổi tài nguyên, nguyên liệu thô lấy máy móc và sản phẩm đã qua tái chế.

Theo một tính toán, hiện nay 60% xuất khẩu Việt Nam sang Trung Quốc là nông sản hoặc sản phẩm thô. Thêm nữa, tương đồng với một số nước chia sẻ cùng một đường biên giới (như Myanmar, Thái Lan, Lào), mậu dịch qua đường biên giới cũng là một đề tài nóng trong quan hệ ngoại thương hai nước.

Thông số của hai tác giả thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam cho thấy, mậu biên đã góp phần vào phát triển kinh tế, đóng góp vào tăng trưởng GDP của các tỉnh biên giới giáp ranh. Nhưng ngược lại, đây cũng là một kênh khác để hàng hóa Trung Quốc chính thức hoặc bán chính thức thâm nhập vào thị trường nội địa Việt Nam, làm tăng gánh nặng trong cán cân mậu dịch và gây sức ép lên các nhà sản xuất “made in Vietnam” đang nỗ lực khẳng định sản phẩm của mình.

Như vậy, viễn cảnh ACFTA khi hình thành, dẫu cho những hứa hẹn tích cực trong tương lai dài hạn, chắc chắn sẽ là một gánh nặng trong điều kiện cơ chế ngoại thương hiện nay (hiệp định tự do mậu dịch Trung Quốc – ASEAN bắt đầu có hiệu lực từ năm 2010 cho ASEAN 6. Riêng các nước kém phát triển hơn trong khu vực bao gồm Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar, thì hiệp định sẽ có hiệu lực từ năm 2015). Với việc đến năm 2015, các doanh nghiệp Việt Nam phải chuẩn bị chấp nhận cạnh tranh với 90% hàng nhập khẩu từ Trung Quốc có thuế suất 0% đến 0,5%, rõ ràng sẽ là một cuộc đọ sức đầy cam go. Trong khi không dễ dàng thâm nhập thị trường Trung Quốc, thì sức ép hàng rẻ từ Hoa lục, một mặt sẽ tạo ra cạnh tranh khốc liệt trong những ngành nghề lao động chất lượng thấp.

Mặt khác, do trình độ phát triển còn chênh lệch, sự lấn áp của các ngành công nghiệp đã phát triển của Trung Quốc đối với những ngành công nghiệp non trẻ mà Nhà nước đang tập trung nuôi dưỡng là một xu thế có thể dự báo trước.

Một nước trong ASEAN 6 như Indonesia, mà đầu 2010 đã phải cảnh báo về nguy cơ thua thiệt của doanh nghiệp nước mình, và lớn tiếng đòi thương thuyết lại một số điểm trong hiệp ước tăng thêm thời gian cho một số mặt hàng dệt may và giày dép. Nếu ảnh hưởng lợi ích xảy ra, Việt Nam khó có thể hành xử như Indonesia bởi những xuất phát điểm khác nhau trong quan hệ chiến lược với Trung Quốc.

Vả lại, một chính sách “xét lại” cũng sẽ chỉ mang tiếng vang truyền thông, khó có những tác động thực tế cụ thể.

Việc Nhà nước kêu gọi và khuyến khích người Việt Nam mua hàng Việt Nam trong thời gian vừa qua có thể xem như một đối sách ngắn hạn. Một mặt vừa hỗ trợ tinh thần và vật chất cho các doanh nghiệp nội địa, mặt khác nâng cao ý thức người tiêu dùng về hiểm nguy “thua trên sân nhà” của các doanh nghiệp Việt Nam.

Trung hạn, sách lược đối trọng ngoại thương bằng cách xây dựng những “đầu máy” giao thương với các bạn hàng chiến lược khác như Hoa Kỳ, Nhật Bản hay EU là một bước đi cần được tiếp tục thảo luận. Mức độ đa dạng về cấu trúc ngoại thương đảm bảo một khung hành động về chính sách rộng và ít ràng buộc.

Ngoài ra, một chuyển dịch kinh tế để cân bằng hàng ngang trong thương mại Việt-Trung đang là nhu cầu cần thiết. Chuỗi giá trị bán vật liệu thô, nhập máy móc sản phẩm qua sản xuất phản ánh tầng phát triển giai đoạn thấp của những nước chập chững trên con đường “công nghiệp – hiện đại hóa”. Trong dài hạn, câu hỏi đặt ra phải làm sao hoàn thiện và nâng cao chuỗi giá trị của mình, cải thiện mức độ sản xuất, từ đó rút ngắn khoảng cách “Bắc-Nam” với các nước phát triển trên tầm cao hơn.

Cuối năm Kỷ Sửu, trong một bài viết, tác giả Trần Văn Thọ đã kêu gọi cần xác định tinh thần Nguyễn Trãi trong quan hệ kinh tế Việt-Trung (Tuần Việt Nam, 6/1/2010). Chào ngày đầu Canh Dần, xin mạn phép bổ sung thêm tầm nhìn Nguyễn Trường Tộ qua tinh thần cải cách “học người, sửa mình” trong cuộc chơi mậu dịch tự do vừa hợp tác, vừa chạy đua với người khổng lồ Trung Quốc: Nhìn (nhiều) người, sửa mình, để mạnh, để cạnh tranh và cùng thắng!